viêm tuỷ bacsinoitru

Viêm Tuỷ Bacsinoitru

Tác giả: BS. Đinh Thị Mai Hồng. Viêm tủy cắt ngang là tình trạng viêm ở cả hai bên của một phần tủy sống. Rối loạn thần kinh này thường làm tổn thương các bộ phận cách điện bao gồm các sợi tế bào thần kinh myelin. Viêm tủy cắt ngang làm gián đoạn các thông tin được các dây thần kinh tủy sống gửi đi khắp cơ thể. Điều này có thể gây đau, suy nhược cơ, tê liệt, các vấn đề cảm giác hoặc rối loạn chức năng bàng quang và ruột. Viêm tủy cắt ngang có thể ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi, giới tính hoặc chủng tộc.

RỐI LOẠN GIẤC NGỦ

Có nhiều loại đau ở mặt khác nhau nhưng mô tả đầu tiên và đầy đủ nhất là đau dây thần kinh số V của John Locke. Đây là lần đầu tiên ông điều trị cho vợ một bá tước Northumberland và là một đại sứ Anh tại Pháp vào tháng 4 năm Vào năm , John Forthergill mô tả 14 trường hợp thường gặp và nhấn mạnh đến loại đau này xảy ra đột ngột và bất ngờ được gọi là đau dây thần kinh số V, thường gặp người lớn tuổi, nữ nhiều hơn nam.

Bệnh Viêm Xoang – Quan điểm Điều trị tích cực

Bệnh zona là bệnh do virus thuộc nhóm Herpesvirus có ái tính với thần kinh gây ra. Tuy nhiên ở các thể zona đặc biệt như zona mắt, zona hạch gối, zona vùng cùng cụt gây nên biến chứng nghiêm trọng như liệt mặt hoặc tàn tật không hồi phục nếu như không điều trị kịp thời. Bệnh Zona là bệnh thường gặp, biểu hiện chủ yếu là những rối loạn ở da và thần kinh; nguyên nhân do varicella-zoster virus VZV , một loại virus có hình thái học và kháng nguyên giống virus gây bệnh thuỷ đậu. Bệnh Zona thường là kết quả của sự suy giảm hệ thống miễn dịch chống lại VZV tiềm ẩn. Những yếu tố khởi động bệnh: xạ trị liệu, một số loại thuốc, tổn thương thực thể, stress, nhiễm khuẩn Zona thường biểu hiện ở 1 hoặc nhiều dây thần kinh tuỷ sống hoặc dây thần kinh sọ não. Biểu hiện thần kinh và da tương ứng với vùng mà dây thần kinh đó chi phối.

Viêm tủy xương: Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị
Viêm tuỷ cắt ngang

Trong một số trường hợp hội chứng cổ vai cánh tay là do bản thân bệnh lý của cột sống cổ gây đau cổ và lan ra vai hoặc tay, mà không có bệnh lý rễ dây thần kinh cổ. Tùy thuộc nguyên nhân, mức độ và giai đoạn bệnh, bệnh nhân có thể có ít nhiều những triệu chứng và hội chứng sau đây:. Có thể kèm theo dấu hiệu vẹo cổ, hay gặp trong đau cột sống cổ cấp tính.

Viêm tủy xương hay cốt tủy viêm là một tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính hay mãn tính ở xương bao gồm tủy xương hay mô mềm quanh xương. Thường do tụ cầu vàng gây bệnh hay liên cầu trùng tạo máu. Những vi khuẩn này vào đường máu trước khi tập trung vào xương đó thực chất của viêm xương tủy xương đường máu trước tiên là một nhiễm trùng máu. Vi khuẩn xâm nhập vào xương từ máu trong cơ thể sau khi bị gãy xương, nhọt, vết ăn trên da, nhiễm trùng tai giữa, viêm phổi hay bất kì bệnh nhiễm trùng nào. Bệnh có thể diễn biến nhanh chóng và vô cùng đau đớn tuy nhiên bệnh có thể diễn biến từ từ và ít đau hơn. Viêm tủy xương là bệnh lý ở hệ xương do vi khuẩn xâm nhập vào máu đi đến xương gây ra tình trạng viêm tại xương vì vậy không chỉ có biểu hiện nhiễm trùng tại chỗ mà còn có biểu hiện nhiễm trùng toàn thân.

Viêm màng não (mủ và nước trong)

Bệnh đa u tuỷ xương

Định nghĩa. Viêm tủy ngang là tình trạng viêm của tủy sống, mục tiêu viêm thường là thành phần bao phủ tế bào sợi thần kinh myelin. Viêm tủy ngang có thể gây thương tích trên cột sống, gây giảm sút hoặc vắng mặt cảm giác sau chấn thương. Việc truyền tín hiệu thần kinh bị gián đoạn của bệnh viêm tủy ngang có thể gây đau hoặc các vấn đề cảm giác khác, yếu hoặc liệt cơ, hay rối loạn chức năng đường ruột và bàng quang. Một số yếu tố có thể gây ra bệnh viêm tủy ngang, bao gồm nhiễm trùng không trực tiếp ảnh hưởng đến cột sống và các rối loạn hệ miễn dịch tấn công các mô của cơ thể. Nó cũng có thể xảy ra như rối loạn myelin, chẳng hạn như đa xơ cứng. Điều trị bệnh viêm tủy ngang bao gồm thuốc kháng viêm, thuốc để quản lý các triệu chứng và điều trị phục hồi chức năng.

Viêm tuỷ cấp bao gồm những tổn thương cấp tính ở tuỷ sống, có thể tổn thương chất trắng hay chất xám của tuỷ sống hoặc toàn bộ ở một đoạn tuỷ hay vài đoạn kế cận nhau. Thuật ngữ chuyên biệt khác được sử dụng để chỉ ra chính xác hơn sự phân bố của quá trình viêm: — Tổn thương giới hạn ở chất xám là viêm tuỷ xám poliomyelitis. Viêm tuỷ cấp bao gồm những tổn thương cấp tính ở tuỷ sống, có thể là tiên phát hoặc thứ phát, do virus hoặc vi khuẩn gây nên. Xét về phương diện chức năng, tủy sống vừa là một cơ quan có chức năng riêng biệt, vừa là một đường dẫn truyền. Nhờ bộ máy khoang đoạn tủy sống chất xám, rễ sau cảm giác đi vào sừng sau, rễ trước vận động từ sừng trước ra và nhờ có các bó liên hợp chất trắng mà tủy sống có thể hoạt động độc lập không có sự can thiệp của não bộ, đồng thời thiết lập được mối liên hệ giữa các tầng tủy sống với nhau. Định luật Chipault cho phép xác định mối liên quan giữa mỏm gai với rễ thần kinh.

Viêm gan E: lây truyền chẩn đoán điều trị và phòng ngừa *

Nó là loại ung thư thường gặp nhất của các tuyến nội tiết. Đa số ung thư tuyến giáp là loại biểu mô carcinôm độ biệt hoá cao, điều trị chính yếu là phẫu thuật và có tiên lượng rất tốt. Carcinôm tuyến giáp dạng nhú có kích thước nhỏ hơn hay bằng 1 cm được gọi là carcinôm kích thước nhỏ hoặc tiềm ẩn. Loại này ít có ý nghĩa lâm sàng do diễn tiến chậm. Biểu hiện lâm sàng carcinôm tuyến giáp thường là một nhân giáp và không gây rối loạn chức năng.

Nấm có thể thường trú trong cơ thể mà không gây bệnh hoặc có thể là tác nhân gây bệnh thật sự, đặc biệt trên các cơ địa suy giảm miễn dịch. Mặc dù khởi đầu nhanh chóng điều trị kháng nấm thích hợp giúp kiểm soát nhiễm nấm Candida xâm lấn và cải thiện tiên lượng, tuy nhiên chẩn đoán sớm nhiễm nấm xâm lấn vẫn còn là thách thức và các tiêu chuẩn khởi đầu điều trị kháng nấm theo kinh nghiệm vẫn chưa được định nghĩa đầy đủ. Để điều trị nấm thành công c ần biết làm thế nào nấm trốn tránh hệ thống miễn dịch và tồn tại bên trong các tế bào chủ cũng như làm thế nào cơ thể người nhận biết và chống nấm xâm nhập. Việc quan trọng nhất trong kiểm soát nhiễm nấm là nâng cao nhận thức của các bác sĩ lâm sàng khi nào nấm gây bệnh có ý nghĩa và dân số bệnh nhân nào có nguy cơ , cũng như chọn lựa thuốc kháng nấm hiệu quả. Về lâu dài, cần phát triển các xét nghiệm chẩn đoán mới nhanh và chính xác. Fungi may colonize body sites without producing disease or they may be a true pathogen, especially in immunosuppressed patients. Although prompt initiation of appropriate antifungal therapy is essential for the control of invasive Candida infections and an improvement of prognosis, early diagnosis of invasive candidiasis remains a challenge and criteria for starting empirical antifungal therapy are poorly defined.

Tủy sống nằm trong ống sống được túi màng cứng bao quanh. Túi này xuất phát từ lỗ chẩm đến tận cùng đốt sống cùng thứ hai S2 Ngược với màng cứng ở sọ não, màng cứng cột sống không dính chắc vào xương, có một khoảng ngoài màng cứng chứa mỡ và có những tĩnh mạch. Khoảng này có thể là nơi xuất phát những tổn thương xâm lấn. Do sự phát triển không đồng bộ giữa tủysống và những phần bao quanh, tủy sống chỉ chiếm một phần ống sống và một phần của túi màng cứng mà thôi: mức thấp nhất của tủy sống, còn gọi là chóp cùng không vượt quá bờ dưới của L1, dưới mức này túi màng cứng chứa các rễ tạo nên chùm đuôi ngựa và dây cùng filum terminal. Dây cùng, có bản chất xuất phát từ màng nuôi, phần trên của nó là phần nối dài của ống nội tủy đi từ chóp cùng của tủy sống đến tận xương cụt. Tủy nằm trong ống sống không thể giãn ra được , vì vậy tủy rất nhạy với những quá trình bệnh lý gây ra hẹp đường kính ống sống. Chèn ép tủy diễn tiến từ từ có thể gây nên 1 chèn ép cơ học trực tiếp hoặc 2 qua trung gian của rối loạn tuần hoàn tại chỗ hoặc của hiện tượng thiếu máu cục bộ.

[[ truncatedTitleBigScreens ]]

Trần Văn Tú. Chẩn đoán. Các dấu hiệu và triệu chứng. Các dấu hiệu chính. Các dấu hiệu riêng biệt của tầng tuỷ. Mất phản xạ hành hang S2-S4 và phản xạ hậu môn S4-S5. Các dạng riêng biệt của bệnh tuỷ.

Viêm tủy myelitis : là hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi viêm cấp tính một đoạn tủy sống, biểu hiện liệt vận động, mất cảm giác dưới nơi tổn thương, rối loạn cơ tròn. Viêm tủy là bệnh viêm tự miễn mà yếu tố kịch khởi bệnh là virus  Herpes, echo virus, zona, epstein-barr, hepatis B, Influenza, Mycopllasma pneumoniae. Cơ chế miễn dịch qua trung gian tế bào và thể dịch, sự tấn công tự miễn làm tổn thương màng myelin của tế bào chất trắng, chất xám và viêm quanh mạch máu, hoại tử tế bào tủy. Lâm sàng: cần phân biệt 2 thể viêm tủy cắt ngang và viêm tủy rải rác. Liệt mềm, liệt dưới nơi tổn thương, mất phản xạ gân xương.

Biểu mẫu tìm kiếm

James Parkinson là người đầu tiên mô tả bệnh này,năm với các biểu hiện run rẩy, rối loạn tư thế và dáng đi. Bệnh thường khởi phát ở độ tuổi 60 với xu hướng tăng dần theo tuổi. Các nghiên cứu bệnh chứng phát hiện thấy nguy cơ tăng khi có tiền sr gia đình, phơi nhiễm với chất diệt côn trùng và chất diệt cỏ. Bệnh có thể gặp ở tất cả các nước, các dân tộc và các tầng lớp xã hội khác nhau. Đặc điểm chủ yếu của bệnh Parkinson là tổn thương hệ thống dopamine của đường liềm đen- thể vân. Mặc dù nguyên nhân gây ra tổn thương này còn chưa rõ, nhưng gần đây nhiều nghiên cứu đã cho thấy hiện tượng chết các neuron thuộc hệ tiết dopamine có vai trò quan trọng trong cơ chế gây ra bệnh Parkinson. Trong bệnh Parkinson, hầu hết các hệ thống tiết dopamine đều bị tổn thương nhưng ở các mức độ khác nhau.

Liên hệ English. Trường hợp bệnh giun đũa chó, mèo ở người được Wilder mô tả lần đầu năm khi phát hiện ấu trùng của giun tròn trong u hạt võng mạc retinal granuloma. Sau đó Beaver và cs. Trong nhiều năm bệnh giun đũa chó, mèo ở người được xem là bệnh ít gặp ở trẻ em, nhưng với những tiến bộ trong huyết thanh chẩn đoán những năm gần đây người ta thấy tỷ lệ người có phản ứng dương tính với kháng nguyên ngoại tiết của Toxocara sp. Tác nhân gây bệnh là Toxocara canis hay Toxocara cati , một loài giun tròn thường được gọi là giun đũa của chó, mèo. Các giun này sẽ đẻ trứng,trứng theo phân ra ngoài môi trường và sau tuần lễ các trứng này sẽ hoá phôi. Đây là giai đoạn có thể gây bệnh cho người nếu nuốt phải trứng.

Viêm màng não mủ và nước trong. Hà Hoàng Kiệm, BV Viêm màng não là hiện tượng viêm của màng não dẫn đến các triệu chứng màng não như đau đầu, cứng gáy, sợ ánh sáng và tăng số lượng bạch cầu trong dịch não tủy. Một xét nghiệm quan trọng giúp phân biệt viêm màng não mủ do vi khuẩn và viêm màng não nước trong do virus là nồng độ Procalcitonin huyết thanh hoặc dịch não tủy. Viêm màng não nước trong thì nồng độ Procalcitonon không tăng hoặc tăng nhẹ.

4 Comments

Hayden J.

12.02.2019 at 02:32

ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM XOANG | Bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn

Aaron R.

19.02.2019 at 22:46

18 Tháng Tám Chẩn đoán bệnh viêm tủy ngang dựa trên câu trả lời cho các câu hỏi về các dấu hiệu và triệu chứng, lịch sử y tế.

Amancai N.

11.02.2019 at 12:44

22 Tháng Sáu Viêm tuỷ cắt ngang là hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi thương tổn cấp tính một đoạn tuỷ sống, biểu hiện liệt vận động, mất cảm giác dưới nơi.

Maupovanwetn1980

19.02.2019 at 01:42

Tài liệu tham khảo bệnh nấm aspergillus đau các ngón chân

Leave a Comment

Copyright © noithatandongduong.com 2020 All Rights Reserved.